Schlagwörter

, , ,

Chào các thím, đây là chuyên mục đã bị tôi lãng quên suốt thời gian qua. Hôm nay tôi sẽ chia sẻ thêm một vài bí quyết học tiếng Đức mà tôi đúc kết được. Như đã nói ở bài trước (chắc là tôi đã nói rồi) thì những bí quyết này chỉ mang tính tương đối, có thể phù hợp với người này nhưng lại không phù hợp với người khác. Do đó, các thím hãy coi đây là một bài để tham khảo, qua đó tìm được cách học tiếng có hiệu quả nhất.

  1. Nắm vững Ngữ pháp!

Tuy trong giao tiếp suồng sã bình thường, yếu tố ngữ pháp không quan trọng bằng việc nói làm sao cho đối phương hiểu ý mình muốn truyền tải, nhưng nếu các thím có nguyện vọng viết/nói đúng và chuẩn, ngoài việc dùng đúng từ (đúng sắc thái nghĩa và ngữ cảnh) cũng như phát âm dễ nghe và dễ hiểu, thì các thím phải nắm rõ quy tắc ngữ pháp.

Ngữ pháp ở đây là gì? Hoàn toàn không phải điều gì quá to tát. Chỉ cần thím nắm rõ đâu là chủ ngữ, đâu là vị ngữ, đâu là Objekt; lúc nào thì sử dụng cách (Kasus), giống (Genus), thì/thời (Präsens hay Präteritum) vân vân và vân vân. Việc hiểu rõ quy tắc ngữ pháp sẽ giúp thím viết câu dễ dàng hơn rất nhiều và hạn chế những lỗi sai cực kỳ ngớ ngẩn, chẳng hạn như chia sai đuôi động từ hay là viết sai quán từ (Artikel)

Bên cạnh đó, nếu thím nào đang ôn thi STK và phải làm Lückentest thì đây là một mẹo khá hữu ích cho việc tìm từ để điền vào chỗ trống. Đơn cử một câu:

Die Besond____1_____ von Minijo___2__ ist, d__3______ der monat___4______ Verdienst nicht über 400 Euro liegen da__5__.

Chỗ thứ (1): Chữ đầu viết hoa, đứng đằng sau 1 quán từ, do đó phải là danh từ, chứ không thể điền tính từ vào được.

Chỗ thứ (2): Chắc chắn là 1 danh từ, nhưng trước đó không có quán từ đi kèm, cộng thêm việc xét nghĩa của toàn cụm, đây phải là một danh từ số nhiều.

Chỗ thứ (3): Câu này là 1 câu Nebensatz, do động từ đứng ở cuối câu, vì vậy từ cần điền phải là 1 từ nối, tuy nhiên, câu này không phải là 1 Relativesatz, vì câu Nebensatz đã có đầy đủ các thành tố câu.

Chỗ thứ (4): Đứng giữa danh từ và một quán từ thì chỉ có thể là tính từ, hoặc dạng Partizip của động từ.

Chỗ thứ (5): Đứng cuối 1 câu NS chắc chắn phải là một động từ, tuy nhiên trước từ này lại là 1 động từ nguyên thể, do đó từ này phải là một Modalverben.

2. Đừng học từ đơn lẻ, hãy học theo dạng mẫu câu (Redemittel) hay những cụm từ cố định (Feste Verbindungen)

Từ ngữ không bao giờ xuất hiện đơn lẻ, chúng phải đi cùng nhau để tạo thành một câu có nghĩa. Tuy nhiên, cách kết hợp các từ sao cho câu có nghĩa phải tuân theo đúng quy tắc ngữ pháp, có những từ chỉ được phép xuất hiện trong một vài cấu trúc nhất định mà thôi.

Vì vậy, để mau chóng nắm vững cách sử dụng 1 từ nhất định, ví dụ như từ „Meinung“, không chỉ phải hiểu nghĩa, mà nên học các cụm từ chứa từ „Meinung“ và cách sử dụng các cụm từ ấy, chẳng hạn như „Meiner Meinung nach“ hay „Ich bin der Meinung“.

Thêm vào đó, học theo kiểu Redemittel theo chủ điểm (chẳng hạn như những mẫu câu dùng trong thư từ, những mẫu câu dùng để viết 1 bài phân tích biểu đồ) sẽ tiết kiệm được kha khá thời gian cho các thím, khi các thím không cần phải vắt óc ra suy nghĩ dùng từ gì, ghép từ như thế nào sao cho đúng.

Học các cụm từ cố định/thành ngữ cũng giúp bài viết trở nên hay ho và có chất „Đức“ hơn, thay vì khiến người ta có cảm giác đây là một bài dịch từ tiếng mẹ đẻ. Chẳng hạn như, dùng „eine Entscheidung fällen/treffen“ thay cho „sich entscheiden“, „etwas ist in Sicht“ thay vì „etwas kann gesehen werden“.

Hơn nữa, biết rõ danh từ/tính từ/động từ nào đi với giới từ nào góp phần giảm tải khó khăn trong việc tìm từ điền trong Lückentest, hay đơn giản, giúp các thím khỏi phải tra từ điển mỗi lần viết bài.

3. Viết nhật ký hay bất cứ thứ gì các thím thích bằng tiếng Đức (viết tay ấy nhé :v)

Nếu các thím là người thích viết lách, yay, đây là một mẹo trau dồi khả năng diễn đạt bằng tiếng Đức khá phù hợp với các thím. Tác dụng của việc này chắc tôi không cần phải giải thích nhiều thêm nữa, phải không?

Kể cả khi các thím là người không thích viết hay chia sẻ cảm xúc bằng lời, không sao, các thím có thể viết Einkaufsliste (danh sách mua hàng) hay ghi chú trong lịch/Planer bằng tiếng Đức. Tuy cách này không giúp các thím nâng cao ngữ pháp, nhưng vẫn có thể giúp các thím ghi nhớ những từ hay sử dụng.

4. Cố gắng nói đúng âm điệu

Bài trước, tôi đã nhắc tới việc cần phải luyện đúng cách phát âm, lần này, thì đề cập đến việc nói đúng âm điệu. Chẳng hạn như, với câu hỏi, phải cao giọng ở cuối câu, với câu trần thuật, xuống giọng ở cuối câu. Hay như nhấn mạnh vào những từ quan trọng trong câu, còn những từ phụ trợ chẳng hạn như quán từ, hay là động từ lót thì không nhất thiết phải đọc quá rõ ràng.

Thêm vào đó, phải nắm vững đâu là trọng âm của một từ. Đa phần các từ trong tiếng Đức có trọng âm rơi vào âm tiết đầu tiên, nhưng vẫn có một vài trường hợp ngoại lệ, chẳng hạn như những từ kết thúc bằng đuôi -ion, -ie (Demokratie) hay từ mượn từ tiếng nước ngoài. Nếu đọc sai trọng âm, người ta vẫn hiểu các thím nói gì, tuy nhiên sẽ thấy khá gai tai (Hệt cái cách người nước ngoài nói ngọng tiếng Việt ấy).

Đây là lời khuyên dành cho những ai cố gắng theo đuổi Akzent tiếng Đức chuẩn. Với tôi, việc phát âm đúng từ vẫn quan trọng hơn, vì nếu không, sẽ chẳng ai hiểu ý thím đang nói là gì đâu.

5. Lập dàn ý cụ thể trước khi bắt đầu viết bài

Đây có vẻ là một lời khuyên khá thừa thãi, nhưng tôi vẫn muốn nhắc đến (và cũng để cho đủ 5 mục ngày hôm nay :v).

Trước hết, hãy phân tích và hiểu rõ đề bài. Từ yêu cầu đề bài, triển khai các ý cần phải nói, sao cho có thể diễn giải dòng suy nghĩ của thím một cách logic, có cấu trúc và rõ ràng nhất có thể. Nếu đề bài là 1 câu hỏi, hãy đảm bảo tới cuối bài, thím đã đưa ra được câu trả lời có sức thuyết phục nhất. Nếu đề bài yêu cầu thím phát biểu cảm nghĩ, hãy đảm bảo đến cuối thím đưa ra được chủ kiến cùng lập luận diễn giải.

Nói chung, một bài luận luôn có cấu trúc kiểu Tổng (Einleitung) – Phân (Hauptteil) – Hợp (Schluss/Fazit), bất kể nội dung như thế nào, hay yêu cầu đề bài ra sao.

Lời cuối: Well, hôm nay đến vậy thôi, chúc các thím một ngày không táo bón.